Ngôn ngữ:

Maria Montessori


Tiến sĩ Maria Montessori -Cuộc đời và sự nghiệp

Tiến sĩ Maria Montessori sinh ngày 31 tháng 8 năm 1870 tại một thị trấn ở Chiaravalle, Ý. Mẹ của bà là một phụ nữ học thức cao và có niềm đam mê đọc sách. Gia đình bà chuyển đến Rome vào năm 1875. Bà không tán thành những định kiến ngăn cản việc học hành và sự nghiệp đối với phụ nữ thời bấy giờ nên đã quyết định theo học ngành Kỹ thuật, một ngành vốn chỉ dành cho nam giới.

Sau đó, dù gia đình khuyến khích bà Maria đi theo ngành giáo dục – một trong số ít những ngành nghề dành cho nữ giới vào thời đó. Thế nhưng cuối cùng bà đã quyết định theo học trường Y để trở thành một bác sĩ. Vượt qua những rào cản của xã hội và những khó khăn trong quá trình học, bà liên tục nhận được những suất học bổng và là người phụ nữ đầu tiên tại Ý tốt nghiệp ngành Y vào năm 1896.
Tháng 11/1896, bà trở thành trợ lý phẫu thuật tại bệnh viện Santo Spirito ở Rome. Phần lớn thời gian ở đây bà được tiếp xúc với các trẻ em nghèo.  Năm 1897, bà tham gia chương trình nghiên cứu tại một phòng khám chuyên về tâm thần của đại học Rome. Tại đây bà có cơ hội gặp gỡ và làm việc cùng Giusseppe Montesano và sinh tình cảm với nhau.

Vì tính chất công việc, bà phải thường xuyên đến khảo sát những khu ổ chuột ở Rome, nơi có những trường hợp bệnh nhân có bệnh tâm thần để nghiên cứu cách chữa trị. Bà nhận ra rằng những đứa trẻ kém phát triển ở đây luôn bị giới hạn những hoạt động về phát triển giác quan và cử động của đôi tay. Điều này đã khiến cho tình trạng bệnh của bọn trẻ trở nên trầm trọng hơn.

Từ đó bà đã bắt tay vào tìm hiểu tất cả những tài liệu liên quan đến trẻ kém trí não, trong đó bà đặc biệt chú trọng đến công trình nghiên cứu mang tính đột phá của Jean-Marc Itard và Edouard Séguin. Itard đã phát triển một kỹ thuật giáo dục qua giác quan để sau đó Séguin đã thử áp dụng vào thực tế. Séguin nhấn mạnh việc tôn trọng và thấu hiểu từng đứa trẻ. Ông còn tạo ra những học cụ mang tính ứng dụng cao để giúp phát triển những khái niệm về giác quan và kỹ năng vận động của trẻ. Sau này bà Maria dựa trên nền tảng nghiên cứu này để phát triển chúng theo một phương pháp mới.

Từ 1897-1898, bà tham gia các khóa học về chuyên ngành sự phạm. Năm 1898, việc nghiên cứu trên những đứa trẻ ở khu ổ chuột đã có nhiều khởi sắc hơn. Bà Maria được mời diễn thuyết tại Hội nghị y học quốc gia tại Turin. Tại đây bà đã bày tỏ quan điểm ủng hộ một học thuyết đang gây nhiều tranh cãi rằng việc thiếu quan tâm đến trẻ kém phát triển trí não chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng ngày càng trầm trọng của chúng. Tiếp theo đó bà có cơ hội diễn thuyết tại Hội nghị giáo dục quốc gia.

Việc bà tham gia vào Hội đồng giáo dục quốc gia dành cho trẻ kém phát triển trí não đã tạo cơ hội cho bà trở thành đồng giám đốc của trường Orthophrenic cùng với ông Guisseppe Montesano, nơi chào đón những đứa trẻ có vấn đề về trí não. Sự  kiện này đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời của Maria Montessori khi bà từ một nhà Vật lý học chính thức trở thành một nhà giáo dục. Thời điểm này thì những nghiên cứu trước đó của bà đã có thể áp dụng vào thực tế. Bà đã có 2 năm làm việc tại trường này với những thử nghiệm và hoàn thiện những học cụ mà Itard và Séguin đã tạo ra. Ngày nào cũng vậy, từ 8 giờ sáng tới 7 giờ tối, bà dạy ở trường và sau đó làm việc đến tận khuya để chuẩn bị học cụ mới, ghi chép lại những quan sát của mình. Bà xem 2 năm quý giá này là khoảng thời gian bà thực sự có được những bằng cấp giá trị nhất trong sự nghiệp giáo dục của mình.

Năm 1898,  cậu bé Mario ra đời là kết quả tình yêu giữa bà và ông Guisseppe Montesano. Do hai người không kết hôn nên cậu bé Mario được gửi cho một gia đình ở ngoại ô gần Rome chăm sóc. Mario là một nhân vật quan trọng khi sau này chính ông đã cùng làm việc với mẹ của mình và tiếp nối sự nghiệp của bà Maria sau khi bà qua đời.

Năm 1901 bà rời trường Orthophrenic và bắt đầu học về triết học giáo dục và thần học. Năm 1904-1908 bà trở thành giảng viên khoa sư phạm của Đại học Rome. Vào thời điểm đó, tại San Lorenzo có khá nhiều cặp vợ chồng phải đi làm suốt cả ngày và không có thời gian giữ con. Chúng nghịch phá khắp nơi khiến cho những người dân ở đây phải tìm một giải pháp để ngăn cản điều này. Bà Maria đã nắm bắt cơ hội này để làm việc với những đứa trẻ khỏe mạnh bình thường. Cùng với những học cụ mà bà đã phát triển ở trường Orthophrenic, bà thành lập nhà trẻ đầu tiên vào tháng 1/1907 với tên gọi “Casa dei Bambini” hay còn gọi là “Children House”. Bà đã tạo ra nhiều hoạt động  khác nhau cho bọn trẻ và đặt các học cụ phù hợp với trẻ vào lớp học.Bà nhận ra rằng khi trẻ được tiếp xúc với môi trường có những hoạt động được tạo ra với mục đích hỗ trợ quá trình phát triển tự nhiên của trẻ sẽ tạo ra những kết quả đáng kinh ngạc. Bà nói rằng bà không có ý định tạo nên một phương pháp giáo dục nào cả, đơn giản chỉ là cho những đứa trẻ một cơ hội để chúng phát triển một cách tự nhiên nhất.

Cho đến 1908 đã có 4 nhà trẻ được mở ở Rome và 1 trường ở Milan. Những đứa trẻ nghịch phá ngày trước đã có những bước tiến rõ rệt. Những đứa trẻ 5 tuổi đã bắt đầu biết đọc, biết viết. Tiếng lành đồn xa, người ta đến thăm trường để trực tiếp nhìn thấy những kết quả đáng kinh ngạc này. Trong vòng 1 năm, khu vực cư dân nói tiếng Ý ở Thụy Sĩ bắt đầu áp dụng phương pháp của bà Maria.

Mùa hè năm 1909 bà Maria có khóa đào tạo đầu tiên về Montessori cho khoảng 100 học viên. Những ghi chép trong giai đoạn này được bà lưu giữ lại toàn bộ trong cuốn sách đầu tiên của bà “The Montessori Method” (Phương pháp Montessori). Quyển sách đứng thứ 2 trong danh sách những quyển sách bán chạy tại Mỹ và nhanh chóng được dịch sang 20 thứ tiếng khác nhau, trở thành tác phẩm có sức ảnh hưởng lớn trong lĩnh vực giáo dục. 

Năm 1913, bà mang con trai về Rome để sống bên cạnh bà.

Sau đó là thời kỳ mà phương pháp Montessori được phổ biến rộng khắp. Cộng đồng Montessori, những chương trình đào tạo và trường học ngày càng phát triển. Bà Maria đã có nhiều buổi diễn thuyết tại nhiều nơi trên thế giới, chủ yếu là ở Mỹ, Anh và một số nước châu Âu. Tuy nhiên trong thời điểm này, thế chiến thứ nhất chính là nguyên nhân làm gián đoạn kế hoạch này.

Sau khi trở về từ Mỹ năm 1917, con trai bà kết hôn với Helen Christy. Bà Maria chuyển đến Barcelona, Tây Ban Nha. Chính quyền nơi đây đã dành nhiều ưu ái cho bà khi hỗ trợ xây dựng một học viện chuyên về nghiên cứu, giảng dạy và đào tạo về Montessori. Vợ chồng con trai bà cũng cùng tham gia vào dự án này. 4 người cháu nội của bà cũng được sinh ra tại đây. Cô cháu gái nhỏ tuổi nhất của bà, Renilde về sau trở thành Tổng Thư Ký và sau đó là Chủ tịch Hiệp hội Montessori quốc tế AMI do bà Maria sáng lập vào năm 1929.

Bà Maria ấp ủ kế hoạch thành lập một trung tâm chuyên nghiên cứu và phát triển phương pháp Montessori dành cho lứa tuổi mầm non. Tuy nhiên kế hoạch này không khả thi do sự cản trở của chủ nghĩa Phát xít ở Châu Âu. Từ năm 1933  những bức chân dung bà bị đốt cháy cùng với những quyển sách của bà. Cũng trong năm đó, sau khi bà Maria từ chối hợp tác với Mussolini- thủ tướng độc tài phát xít Ý trong việc kết hợp các ngôi trường Montessori tại Ý với phong trào thanh niên theo chủ nghĩa phát xít , ông ta đã đóng cửa tất cả các trường này. Cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha buộc gia đình bà phải rời nơi đây để chuyển đến nước Anh vào mùa hè năm 1936. Sau đó gia đình bà sang Hà Lan và sống trong ngôi nhà của Ada Pierson, con gái của một chủ ngân hàng người Hà Lan. Ông Mario chia tay với người vợ đầu từ thời điểm này và sau này kết hôn với Ada Pierson.

Năm 1939, bà Maria và con trai sang Ấn Độ để thực hiện khóa đào tạo thời hạn 3 tháng tại Madras. Bà trải qua một mùa hè tại vùng nông thôn Kodaikanal thuộc Ấn Độ. Những trải nghiệm tại đây đã hướng những suy nghĩ của bà đến bản chất của những quan hệ giữa những  thực thể sống. Đó cũng chính là trọng tâm của những nghiên cứu mà bà kiên trì theo đuổi suốt cuộc đời. Đến sinh nhật lần thứ 70, bà Maria đề nghị chính quyền ở Ấn Độ trả tự do cho ông Mario, trước đó đã bị bắt do là người Ý. Từ đó bà cùng con trai đã tổ chức huấn luyện và đào tạo cho hàng nghìn giáo viên ở nước này.

Năm 1946 họ trở về Hà Lan và đoàn tụ với 4 người cháu, vốn được Ada Pierson chăm sóc suốt những năm tháng nội chiến diễn ra. Năm 1947, bà Maria khi ấy 76 tuổi, đại diện cho UNESCO với chủ đề “Giáo dục và Hòa bình”. Lần xuất hiện cuối cùng trước công chúng của bà là vào năm 1951 khi bà tham dự Hội nghị Montessori quốc tế lần thứ 9. Vào tháng 6 năm 1952 bà qua đời tại Hà Lan. Con trai bà, ông Mario chính thức kế thừa những công trình nghiên cứu quý giá trong suốt cuộc đời của người mẹ đáng kính.